Vong dương - hồi dương cứu nghịch:
Cho phụ tử vào 600ml sắc trước 1 giờ, sau đó cho can khương, cam thảo vào sắc tiếp lấy 100ml nước thuốc.
Uống lúc thuốc còn ấm. Nếu uống thuốc lúc còn ấm mà nôn thì chuyển sang cho uống thuốc lúc đã nguội lạnh.
1. Nhân sâm tứ nghịch thang:
Nếu sau khi uống Tứ nghịch thang, hết ỉa lỏng song các chứng chân tay lạnh giá, nằm co, mạch vi vẫn còn (là do âm huyết bị tổn thương) thì gia thêm Nhân sâm 4-8g. Sắc riêng hòa với nước thuốc sắc Tứ nghịch thang uống.
2. Bạch thông thang:
Nếu ỉa lỏng mà mạch vi là do âm hàn thịnh ở hạ tiêu thì bỏ cam thảo gia thêm Thông bạch (hành tươi) 4 nhánh để thông dương phá âm, hồi dương thông mạch.
3. Bạch thông gia trư đởm thang:
Nếu ỉa lỏng không cầm được mà lại có quyết nghịch, nôn khan, vô mạch thì dùng Bạch thông thang gia thêm Mật lợn 20ml + Đổng tiện (nước tiểu trẻ em) 50ml để tư âm hòa dương.
4. Sâm phụ thang:
Nếu dương khí thoát: Quyết lạnh, khí đoản, đầu váng vã mồ hôi trán, choáng, mạch vi thì bỏ can khương, cam thảo gia thêm Nhân sâm 9g để hồi dương cố thoát.
Tụt huyết áp, huyết áp thấp người mệt mỏi hay ngất.
Các vị cho vào 600ml nước, sắc lấy 200ml nước thuốc.
Uống trong ngày. Ngày uống 1 thang.
Nếu bạn thấy bài viết này hữu ích, hãy chia sẻ để tạo phúc cho mình và giúp đỡ mọi người.